Việt
Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, một số dân tộc còn
có chữ viết riêng. Những tiếng nói, chữ viết riêng này đang ngày một
giàu thêm về số từ vựng, tinh tế hơn, chính xác hơn về sức diễn đạt,
truyền cảm.
Trong
số các dân tộc ở Việt Nam, tiếng nói, chữ viết của dân tộc Việt được sử
dụng rộng rãi nhất và trở thành tiếng nói, chữ viết phổ thông, ngôn ngữ
chính thức trên toàn đất nước Việt Nam.
Về chữ viết, trong một thời gian dài dưới thời Bắc thuộc, Việt Nam sử
dụng chữ Hán (của Trung Quốc) trong giao dịch, giáo dục, trong các văn
bản của nhà nước phong kiến. Việc sử dụng chữ Hán còn kéo dài đến đầu
thế kỷ 20. Đến thế kỷ thứ 10, song song với việc sử dụng chữ Hán, người
Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm (dùng đặc tính tượng hình của chữ Hán để
ký âm tiếng Việt). Sự xuất hiện của chữ Nôm (có thể) đánh dấu sự trưởng
thành trong ý thức dân tộc của người Việt và giúp cho nền văn học Việt
Nam phát triển rực rỡ. Đến thế kỷ 16, chữ Quốc ngữ xuất hiện sau đó thay
thế cả chữ Hán và chữ Nôm
Từ khi có chữ Hán, chữ Nôm và sau này là chữ Quốc ngữ thì văn học dân
gian đã là chất men tạo nên văn học bác học thực sự của dân tộc và phát
triển thành nền văn học Việt Nam hiện nay. Đó là con đường đi cũng như
đặc điểm ra đời và sự liên quan của văn học dân gian và văn học bác học
Việt Nam.