20.6.14

111 trước CN (Canh Ngọ) :Nhà Hán đánh bại nhà Triệu, đô hộ Âu Lạc.



Triều đình nhà Hán phái một lực lượng hơn 10 vạn người do Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục ba tướng quân đem quân từ quận Quế Dương tiến xuống đường sông Hồi Thủy, chủ tước Đô úy là Dương Bộc làm Lâu thuyền tướng quân đem quân từ quận Dự Chương xuống đường Hoành Phố, Quy Nghĩa, cùng tiến xuống tấn công tiêu diệt nước Nam Việt của con cháu Triệu Đà, chiếm kinh đô Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay).
Triều đình nhà Hán phái một lực lượng hơn 10 vạn người do Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục ba tướng quân đem quân từ quận Quế Dương tiến xuống đường sông Hồi Thủy, chủ tước Đô úy là Dương Bộc làm Lâu thuyền tướng quân đem quân từ quận Dự Chương xuống đường Hoành Phố, Quy Nghĩa, cùng tiến xuống tấn công tiêu diệt nước Nam Việt của con cháu Triệu Đà, chiếm kinh đô Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay).
“Sứ giả” của triều đình Nam Việt cai trị hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân đầu hàng nhà Hán.
Nhân cơ hội này, thủ lĩnh vùng Tây Vu (trung tâm là Cổ Loa) đã nổi dậy khởi nghĩa, nhưng bị Hoàng Đồng (chức Tả tướng ) giết hại.
Nhà Hán chiếm được nước Âu Lạc củ từ trong tay nhà Triệu và chiếm được cả nước Nam Việt, đặt thành 9 quận lệ thuộc, trong đó Âu Lạc củ bị chia làm 3 quận là: Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Bắc Trung Bộ) và Nhật Nam (Trung Trung Bộ).

179 trước CN (Nhâm Tuất) :Triệu Đà vua nước Nam Việt xâm lược Âu Lạc


Sau khi Cao Hậu nhà Hán chết (180 tr.CN), quân Hán bãi binh, Triệu Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình.
Sau nhiều lần phát quân đánh Âu Lạc không được, Triệu Đà lập kế xin giảng hòa với An Dương Vương, cầu hôn con gái là Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy và đưa Trọng Thủy sang gửi rể ở Cổ Loa để đánh cắp các bí mật quân sự của Âu Lạc (chủ yếu là vũ khí “nỏ thần” lợi hại) và chia rẽ nội bộ nước Âu Lạc.
Triều đình Cổ Loa mất cảnh giác bị Triệu Đà cho quân sang đánh chiếm. An Dương Vương tự tử.
Nước Âu Lạc bị sáp nhập vào nước Nam Việt của Triệu Đà, bị lệ thuộc và chia làm hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân – tức Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay.
Đất đai của Triệu Đà chiều ngang hơn vạn dặm, Đà đi xe mui lụa mầu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là chế, chẳng kém gì Hoàng đế Trung Quốc

Bắc Cạn - Lễ hội Lồng Tồng ở huyện Na Rì



Trên những thửa ruộng bậc thang thuộc xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn, cứ vào ngày mồng 8 tết âm lịch hàng năm, lại diễn ra một lễ hội của đồng bào Tày, Nùng mang tên "Lễ hội Lồng Tồng".
Những người dân sở tại sẽ dâng lên những mâm cỗ do chính tay mình tự làm, bao gồm tám mâm, tám chén, tám đôi đũa cùng tám chai rượu. Nắng mưa cũng mặc, lễ hội vẫn cứ diễn ra, mâm cỗ vẫn cứ dâng lên vì trên mỗi mâm đã có những chiếc ô che sẵn. Chủ hội sẽ đích thân làm lễ cúng Thần nông-vị thần cai quản ruộng đồng, làng bản để cầu ấm no, sức khỏe và hạnh phúc cho mọi người dân trong bản.
Xã Lam Sơn, nơi diễn ra lễ phục dựng hội Lồng Tồng còn vui hơn cả Tết bởi sự nhộn nhịp của đêm trước lễ hội. 10 thôn, bản náo nức chuẩn bị cỗ. Đã ít nhiều biết đến ẩm thực của các dân tộc miền núi phía Bắc qua sách báo và những ngày hội nhưng vẫn không khỏi ngỡ ngàng bởi sự khéo léo và tinh tế trong chế biến món ăn và nâng sự bình dị của từng món ăn lên hàng nghệ thuật khi gắn vào đó những ý niệm, những so sánh trong sự tương quan giữa âm và dương, trời và đất của người dân Na Rì. Lễ rước cỗ mở đầu cho Lễ hội Lồng Tồng diễn ra tại khu đất trống ở bản Pioo xã Lam Sơn khiến người ta nghĩ đến lễ dâng bánh chưng bánh dày của Lang Liêu thủa trước. Trang trọng và đầy ắp hương xuân, mỗi mâm cỗ là một tác phẩm nghệ thuật của nấu nướng và sắp đặt. Chỉ với một loại nếp nương, người dân Na Rì đã chế biến được 8-10 món bánh trên mâm cỗ, từ bánh dày, bánh chưng, xôi mật, xôi ngũ sắc ... đến các loại bánh phỏng nhào mật đủ cả vuông, tròn, sao năm cánh. v.v. Rồi chuối, dứa, và các loại hoa rừng, mùa nào thức đấy, mâm cỗ đầu xuân của ngày hội xuống đồng cũng là mâm cỗ đủ cả sản vật của 12 tháng với ước mong về một sự no đủ.
Giờ khai hội, cây cột tung còn được trang trí bằng những tua rua vải sặc sỡ với những quả còn được chuẩn bị sẵn sẽ trở thành trung tâm của lễ hội sau khi ông chủ hội tung quả còn đầu tiên lên. Nam nữ xúm lại bên ném, bên bắt còn. Đó cũng là một kiểu trao gửi tình cảm của thanh niên vùng núi hiếm hoi còn sót lại đến ngày nay. Sau đó là chương trình hát sli lượn giao duyên, múa sư tử, biếu diễn đao thuật, hội cờ tướng (bàn cờ được ghép bằng những mảnh cây vầu), đám kéo co (đội nào thắng thì coi như năm đó được mùa)... khiến lễ hội trở thành một dịp cho người dân bản trổ tài góp vui...
Gắn bó với lao động sản xuất, Tết đến cũng là ngày các dụng cụ lao động được hưởng niềm vui đón Tết như con người. Người ta dán giấy đỏ, giấy hồng lên các dụng cụ lao động, như thể khoác cho nó một tấm áo mới, hay truyền sang nó một nụ cười xuân. Bốn con trâu được chọn xuống đồng trong ngày khai hội cũng được tết nơ hồng, nơ đỏ vào đuôi, vào sừng, những chiếc cày, chiếc bừa gắn tua rua, cắm cờ đỏ khiến mảnh ruộng cạnh khu lễ hội cũng rực lên một sắc mới. Ngay sau những đường cày khai hội, những quả còn với những chiếc đuôi dài như những lọn tóc con gái vùng cao, đủ màu sắc vun vút tung lên cao. Cột còn khá cao, vòng tròn khá nhỏ nhưng quả còn của một chàng trai Lam Sơn đã tung trúng tâm tròn, khép lại hội tung còn mở màn cho những câu sli, lượn giao duyên tình tứ. Mùa hoa mận trắng xóa, tiếng róc rách của suối nước, sự ồn ã của gió rừng ... tất cả như tụ hội về Lam Sơn cùng những câu sli, lượn. Người xem không muốn dứt khỏi những Lượn nàng ới, nhưng cũng không bỏ lỡ cơ hội để hòa vào sự nhộn nhịp , náo nức của những trò chơi dân gian như: kéo cóc, đẩy gậy, đánh yến, đánh sảng.v.v.
Một ngày náo nức, một ngày trái tim người dân Na Rì đập rộn rã bởi những ánh mắt trìu mến trao nhau, Lễ hội Lồng Tổng ở Na Rì có sự trang nghiêm của phần lễ, có cái náo nức của hội hè nhưng tuyệt nhiên không yếu tố thương mại và mê tín dị đoan. Đã bị mai một và mới được tổ chức lại từ năm 1999, Lễ hội Lồng Tổng ở Na Rì năm nay nằm trong kế hoạch phục dựng các lễ hội truyền thống cổ mà Bộ VH-TT chỉ đạo Vụ Văn hóa dân tộc miền núi phục dựng sau lễ hội Tâm nghết ( lễ hội Dâng trâu mừng được mùa và cầu cho mùa mới bội thu) của đồng bào Mnông ở Đaklak. Đồng thời, thông qua việc phục dựng, giữ lại cái hồn của lễ hội, những yếu tố mang bản sắc riêng, lược bỏ những chi tiết rườm rà, lạc hậu, bổ sung những yếu tố mới phù hợp để xây dựng mô hình mẫu Lễ hội đầu xuân cầu mùa của người Tày, Nùng. Từ hình mẫu, người Tày, Nùng ở các địa phương khác sẽ thổi vào hình mẫu những sắc màu của địa phương mình và "chuyển dịch" hình mẫu đó về địa bàn nơi mình sinh sống theo phương thức nhân rộng.
Theo ông Vi Hồng Nhân, Vụ trưởng Vụ VHDTMN, để Lễ hội Lồng Tồng Na Rì ấn tượng hơn nữa và thực sự là một hình mẫu, công tác tổ chức cần phải chuẩn bị kỹ hơn, bài bản hơn. Ví dụ, cột còn phải liền cây, không được chắp vá, và không quá cao để phụ nữ có thể tham gia. Trước khi tung còn tự do, nên để cho mỗi thôn tham gia tung từ 10-20 quả còn. Kịch bản lễ hội phải lưu ý tính kết nối hạn chế tối đa "giờ chết". Muốn vậy cần tăng cường đội múa lân biểu diễn trong những đoạn chuyển giao giữa các phần lễ hội. Người đọc văn lễ phải mặc trang phục dân tộc theo đúng nghi thức, phải quay mặt vào các mâm cỗ để đọc văn lễ chứ không phải quay lưng về cỗ, quay mặt về đám đông. Bổ sung thêm các trò chơi dân gian , cố gắng khai thác các nghệ nhân hát trong phần thi hát đối đáp giao duyên. Bởi theo ông, tại lễ hội lần này "đã phát hiện một vài cụ già có cả kho bài hát ... trong túi".
Na Rì đang đổi mới, Na Rì đang vươn mình để trở thành thị xã, thành phố trong nay mai. Nếu như con đường từ Bắc Kạn vào Na Rì vài năm trước phải đi mất cả ngày đường mới tới nơi thì bây giờ chỉ mất khoảng 2 giờ đồng hồ ô tô chạy. Tương lai không xa, Na Rì sẽ là một trong những tuyến đường thông thương, giao lưu thương mại và văn hoá với nước bạn láng giềng. Na Rì cũng sẽ có một khu du lịch sinh thái hứa hẹn sự hấp dẫn với động Nàng Tiên và thảm thực vật đa dạng. Kinh tế phát triển thì văn hóa cũng phải được quan tâm phát triển tương xứng với kế hoạch tăng trưởng kinh tế nơi đây và việc phục dựng , xây dựng hình mẫu Lễ hội Lồng Tồng được xem là bước khởi đầu của chặng đường phát triển mới văn hóa ở Na Rì.
Việc gìn giữ, bảo tồn không gian văn hóa của lễ hội Lồng Tồng không chỉ là nguyện vọng của người dân Lam Sơn, Na Rì - quê hương của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, mà cũng là mong muốn của những người làm công tác văn hóa. Với người dân miền núi như ở Bắc Cạn, việc có một lễ hội thực sự vui, bổ ích và lành mạnh như lễ hội Lồng Tồng rất hiếm hoi. Chính vì lẽ đó, lễ hội Lồng Tồng đầu xuân năm 2003 đã không còn là "chuyện riêng" của người dân địa phương. Hội Văn học nghê thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã coi đây là một cơ hội quý để thâm nhập một vùng văn hóa còn nhiều nét sơ khai và bí ẩn, dành nhiều những quan tâm đặc biệt cho lễ hội ngay từ khi tiếng trống khai hội chưa kịp gióng lên...

Bắc Cạn - Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày ở Bắc Hà



Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày - Bắc Hà diễn ra vào ngày rằm tháng giêng hàng năm để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ cạn, giúp dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm. Từ sáng sớm, dân làng đã cử một đoàn người gồm: thầy cúng, đội trống, chiêng, khèn và các cô, các chị (là những người chăm chỉ làm ăn, có cuộc sống gia đình yên bình khoẻ mạnh)… đi lên ngọn núi Pản Phố - nơi có nguồn nước trong nhất bản - rước hồn Đất, hồn Nước về dự hội.
Đi đầu đoàn rước là thầy cúng. Thầy là người giữ vai trò làm sứ giả để giao tiếp với các vị thần linh. Trong tay thầy cầm cây nêu - biểu tượng của sự sinh sôi, nảy nở - rước đến địa điểm diễn ra lễ hội.Tiếp theo là kiệu rước Nước và các mâm lễ. Nước được đựng trong hai ống bương to, tượng trưng cho ống bố, ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước Đất - hồn mẹ Đất được lấy từ trên đỉnh núi cao thiêng liêng. Sau đó là đến các mâm lễ để dâng các vị thần linh. Lễ vật gồm một mâm quả còn, bên trong các quả còn đựng các loại hạt giống do các cô, các chị kỳ công làm ra, các mâm xôi ngũ sắc, gà luộc, hoa quả… đều là những sản vật tinh tuý của mùa màng – thành quả sản xuất của dân bản trong năm. Đội chiêng trống đi hai bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy giao linh với các vị thần.
Địa điểm tổ chức lễ hội là cánh đồng rộng của bản. Khi các đoàn rước tới nơi, ba hồi kèn trống nổi lên vang động đất trời, thấu đến chín tầng cao xanh như báo cho Trời - Đất biết: Ngày hôm nay dân làng mở hội. Thầy cúng thực hiện nghi lễ cầu khấn.
Tiếp đó, thầy cúng phun nước làm phép để xua các điều xấu, xua quỷ dữ không cho về quấy phá dân bản. Rồi thầy tung lộc (ngô, lúa) của thần linh cho dân bản, những người dự hội ai cũng cố gắng nhận cho được vài hạt thóc, hạt ngô đem về nhà làm khước may mắn để nhà mình vụ sau ngô sai hạt, lúa sai bông.
Sau phần lễ nghi trên, mọi người bước vào phần hội với những màn xoè điệu nghệ của các cô gái, chàng trai. Khi các màn xoè kết thúc là các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, chọi gà, chọi trâu (bằng bắp bi chuối và măng), ném còn… bắt đầu Dù là ngày hội của người Tày nhưng các dân tộc khác trong vùng cũng đến dự rất đông vui.

BRVT - Lễ hội đình thần Thắng Tam



Đình Thần Thắng Tam là một quần thể kiến trúc gồm có 3 di tích: Đình Thần Thắng Tam, miếu Bà Ngũ Hành, lăng ông Nam Hải. Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng Thắng ở Vũng Tàu, đó là: Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền.
Chuyện kể rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo vệ thương thuyền của người Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng tàu, họ đã lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của mình là Phước Thắng. Ba đội quân vừa làm việc nước – bảo vệ sự thanh bình của bờ biển cửa ngõ, vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân cho giải ngũ và ban thưởng phần đất mà họ có công khai phá. Từ ba vị trí của ba đội quân dần dần hình thành nên ba làng Thắng. Sau khi ba đội Ông chết, Triều đình ban sắc phong cho ba ông.

Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá, đình thần thắng tam còn lưu giữ những lễ hội in đậm văn hoá dân gian và bản sắc dân tộc.

Hàng năm lễ hội Đình Thần Thắng Tam được tổ chức trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Đây là lễ hội cầu an, là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá.

Phần lễ diễn ra rất cầu kỳ: cúng tế, lễ vật tế thần, dâng hương quỳ lạy, chiêng trống, kèn nhạc... và có rất nhiều điều kiêng kỵ như heo dùng để tế lễ phải có bộ lông cùng màu, người có tang không được tham gia vào việc nghi thức tế lễ.

Phần hội có nhiều trò vui chơi giải trí như múa lân, hát bội...

Lễ hội đình Thần Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Du khách viếng thăm đình Thần Thắng Tam vào dịp lễ hội, hẳn sẽ có chuyến tham quan thú vị và sinh động nhất trong chuyến du lịch Vũng Tàu.

An Giang - Lễ Kỳ an ở đình Châu Phú



Từ ngoài vào, bên trái là miếu thờ Sơn quân, bên phải là am thờ Ngũ hành. Bắt đầu gian chính điện, sau gian võ ca, là bàn thờ hội đồng, bàn thờ ông tượng, thờ thần Bạch mã, kế đó là bàn thờ thành hoàng bổn cảnh, bàn thờ hai ông: Đỗ Đăng Tàu (chánh vệ thuỷ): Lệ Văn Sanh (phó vệ thuỷ), rồi bàn thờ Thoại Ngọc Hầu, bàn thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Hai bên là các ban thờ tả ban, hữu ban, tiền hiền, hậu hiền.

Vị thần chính được thờ trong đình Châu Phú là Nguyễn Hữu Cảnh. Ông là người có công với miền Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng. Năm 1698 ông nhận chức Kinh lược vào đất Gia Định, lần đầu tiên, tổ chức việc hành chánh, tạo nề nếp cho người dân đi khẩn hoang.

Năm 1700 ông chết, chúa Nguyễn Phúc Chu truy phong là hiệp tán công thần, đặc tấn chưởng dinh. các vua nhà Nguyễn, bắt đầu từ Gia long đều truy phong chức tước cho ông. Ngày 29 tháng 11 năm 1852, vua tự Đức phong ông là thượng đẳng thần, chuẩn cho làng Châu Phú, huyện tây Xuyên phụng thờ. Có lẽ khi ấy, ông được coi là thành hoàng làng Châu Phú. Bởi lẽ, trước đó, các cuốn sách về vùng này như Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Đại nam nhất thống chí (các quan chép sử nhà Nguyễn) đều chưa chép gì về ngôi đình và việc thờ này. Hai cuốn sách đều nói, tại vùng này có đền thờ ông. Đại Nam nhất thống chí chép: "Đền thờ Lễ công ở địa hạt thôn Châu Phú, huyện Tây Xuyên, cựu trấn thủ Nguyễn Văn Thụy dựng đền này phụng tự Tiền thống suất chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Đến nay, hương hoả còn y như trước mà rõ có linh ứng"(1).

Việc đưa Thoại Ngọc Hầu vào thờ phụng ở đây, không rõ vào thời gian nào.

Với các ban thờ, nhân vật được phụng thờ như trên, lễ Kỳ Yên tại đình Châu Phú được tổ chức theo trình tự sau:

1. Lễ thỉnh sắc: Bắt đầu từ 7 giờ sáng ngày mùng 10/5 âm lịch tiến hành lễ thỉnh "sắc thần Nguyễn hữu cảnh" từ Nhà lớn về đình. Lễ này rất long trọng, có xe hoa, long đình, chiêng, trống, học trò lễ v.v... các vị trong ban quản trị đình thần mặc áo dài khăn đóng đi hầu phía sau. Sau lễ thỉnh "sắc thần Nguyễn hữu cảnh" là lễ thỉnh "Sắc thần Thoại Ngọc Hầu" tại phủ thờ của ông Nguyễn Khắc Mi (cháu nhiều đời của Thoại Ngọc hầu), sắc thần của hai ông chánh vệ thuỷ Đỗ Đăng Tàu và phó vệ thuỷ Lê Văn Sanh.

 2. Lễ túc yết: Lễ túc yết được diễn ra theo trình tự nghi thức dân gian truyền thống thường thấy ở các đình trong tỉnh An Giang. Đúng một giờ đêm ngày 11/5 âm lịch Ban quản trị của đình đã tề tựu đông đủ để bắt đầu cúng túc yết. Chịu trách nhiệm chính ở buổi lễ cúng là ông chánh tế- cũng là trưởng ban quản trị đình.

 - Lễ vật chính dâng cúng trong buổi lễ túc yết gồm có một con heo trắng (heo đã mổ xong, cạo sạch, chưa nấu chín), một chén đựng huyết, một ít lông heo gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa muối, gạo. Các lễ vật được bày trên bàn, riêng con heo trắng được đặt sấp, thân phủ lên một giá gỗ cao. Ngoài ra còn có những lễ vật khác do nhân dân mang đến dâng cúng.

Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế đến dâng hương lễ trước bàn thờ, rồi lần lượt Ban quản trị thay nhau vào lễ. Kế đến là phần "Khởi chinh cổ", sau khi đánh ba hồi trống gỗ và ba hồi chiêng mõ. Ban nhạc lễ với các nhạc cụ dân tộc bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chuốc tửu, tiệm trà bắt đầu.

Diễn tiến của buổi lễ đều theo sự điều khiển của người xướng lễ.

Sau khi dâng hương, dâng ba tuần rượu gọi là chuốc tửu và dâng trà gọi là tiệm trà, theo lời xướng của người xướng lễ, bản văn tế (văn chúc) được mang đến trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống "đọc văn", trong khi ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho giọng đọc. Dứt bài văn tế, ông chánh tế nghỉ cúng, đốt văn bản này và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ túc yết coi như đã xong.

3. Lễ xây chầu và hát bội. Sau khi lễ túc yết xong, là đến lễ xây chầu và hát bội được tổ chức tại gian võ ca phía trước chính điện. những người tham dự cũng ăn mặc chỉnh tề xếp thành hai hàng nhưng từ cửa chính điện trở ra. Trên gian võ ca, tất cả diễn viên đoàn hát bội hoá trang, trống mõ sẵn sàng. Ông chánh bái ca công (Chủ trì lễ xây chầu) nhúng cành dương vào tô nước cầm trên tay vẩy ra xung quanh và đọc lời cầu nguyện:

- "Nhất sái thiên thanh". (Trời thêm thanh bình)

- "Nhị sái địa linh" (Đất thêm tươi tốt)

- "Tam sái nhơn trường" (Người được sống lâu)

- "Tứ sái quỷ diệt hình" (quỷ dữ bị tiêu diệt).

Đọc xong, ông chánh bái đánh ba hồi trống và nói: "Ca công- tiếp hát", lập tức trống mõ của đoàn hát bội rộ lên và chương trình hát bội được bắt đầu. Đoàn hát rất nhiều xuất với các tích tuồng xưa như: Trần Bình Trọng, Sát Thát, Trưng nữ Vương, Lưu kim Đính, Sơn hậu...

4. Lễ Chánh tế: vào 3 giờ sáng ngày 12/5 âm lịch bắt đầu lễ chánh tế, nghi thức diễn lại như lễ túc yết là sau phần dâng trà là phần âm thực mang ý nghĩa truyền thống. Phần thưởng của thần ban cho vị chánh tế.

5. Lễ nối sắc: Tiến hành vào lúc 13 giờ ngày 12/5 âm lịch- ngày cuối cùng của lễ hội. Nghi thức cũng giống lễ thỉnh sắc. Lễ hội kỳ yên tại đình thần Châu Phú đến đây là kết thúc.

Lễ hội này thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng qui tụ về với lễ vật trên tay, người nào cũng trang phục chỉnh tề, quỳ lạy trước bàn thờ và cầu nguyện thần linh sao cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi, sản xuất phát triển, nhân dân ấm no.

Như thế, lễ Kỳ Yên ở đình Châu Phú mang hai lớp ý nghĩa vừa tưởng nhớ một vị có công khai phá miền Nam Bộ, vừa cầu mong một cuộc sống no đủ. Cho nên, đây là một sinh hoạt văn hoá dân gian đáng được bảo tồn, duy trì và tạo điều kiện phát triển.

208 TCN (Quý Tỵ) :Nhà nước Âu Lạc ra đời do Thục An Dương Vương đứng đầu.



Thục Phán, thủ lĩnh tộc người Âu Việt ở miền núi, sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi, đã thống nhất các tộc người Âu Việt và Lạc Việt, lập nên nhà nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương thay thế và phát triển nhà nước Văng Lang của các vua Hùng, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).
Sơ đồ thành Cổ Loa
Thục Phán, thủ lĩnh tộc người Âu Việt ở miền núi, sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi, đã thống nhất các tộc người Âu Việt và Lạc Việt, lập nên nhà nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương thay thế và phát triển nhà nước Văng Lang của các vua Hùng, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).
An Dương Vương cho đắp thành Cổ Loa rộng lớn, gồm nhiều vòng thành và hào kiên cố, tạo thành một căn cứ liên hoàn giữa thủy và bộ. Đây cũng là một trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của nước ta thời đó.

214 TCN (Đinh Hợi) :Kháng chiến chống nhà Tần xâm lược.


Nhà Tần sai viên Hiệu úy Đồ Thư đem 50 vạn quân xâm lược đất đai của Bách Việt ở phía Nam Trường Giang.
Nhà Tần sai viên Hiệu úy Đồ Thư đem 50 vạn quân xâm lược đất đai của Bách Việt ở phía Nam Trường Giang. Sau khi chiếm được miền đất Lục Lương, đặt ra các quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Bắc và Đông Quảng Tây), Tượng (Quảng Tây, Nam Quý Châu), quân Tần tiếp tục tiến sâu vào đất Việt. Song quân Tần đã bị người Âu Việt và Lạc Việt chống lại rất quyết liệt. Người Âu - Lạc tạm rút vào vùng rừng núi, cử người tuấn kiệt lên làm tướng, tổ chức lực lượng kháng chiến, tập kích quân Tần vào ban đêm. Cuộc kháng chiến của người Âu Việt và Lạc Việt kéo dài trong nhiều năm, cuối cùng đã giết được viên Hiệu úy Đồ Thư, buộc nhà Tần phải bãi binh.